Sống chung với bệnh trầm cảm

Hiểu rõ bệnh trầm cảm

Sống chung với bệnh trầm cảm 1

Thỉnh thoảng ai cũng có một ngày xấu, một ngày đều chán nản. Cảm giác xuống dốc có thể làm bạn gần như muốn rơi lệ. Thật không may, đôi khi những cảm giác này có thể kéo dài và có thể là dấu hiệu của bệnh trầm cảm.

Nhận biết những dấu hiệu của trầm cảm

Cần biết rằng trầm cảm không phải là sự yếu đuối về nhân cách. Như bất cứ một người đang ốm nào, người bệnh trầm cảm có thể có nhiều triệu chứng khác nhau. Trong khi chúng ta có thể có một vài ngày có triệu chứng, người bệnh trầm cảm bị những triệu chứng dưới đây kéo dài trong nhiều tuần hay nhiều tháng.

Khi bị trầm cảm, các triệu chứng sau sẽ kéo dài ít nhất 2 tuần, bao gồm:

  • Không còn thích thú hay hăm hở với bất cứ điều gì
  • Mất năng động
  • Buồn nản kéo dài hay cảm giác đời không đáng sống
  • Ăn kém hay ăn nhiều hơn bình thường dẫn đến thay đổi cân nặng
  • Ngủ nhiều hay ít hơn bình thường
  • Cảm giác mệt mỏi liên tục
  • Cảm thấy mình không có giá trị hay mặc cảm tội lỗi không có lý do
  • Khó tập trung hay khó ra quyết định
  • Dễ nóng nảy, giận dữ
  • Nghĩ về tự sát và chết chóc.

Trầm cảm là một bệnh có thể điều trị được.

Người bệnh trầm cảm thường có những triệu chứng cơ thể đi kèm như nhức đầu, đau bụng, đau cơ,.. Nếu có những triệu chứng này, bạn hãy trao đổi với Bác sĩ xem chúng có liên quan đến căn bệnh trầm cảm hay không.

Nguyên nhân nào gây ra trầm cảm

Nguyên nhân đích xác của trầm cảm chưa được biết rõ. Các yếu tố di truyền, môi trường và mất cân bằng về hóa học có thể là những yếu tố nguy cơ liên quan đến trầm cảm. ( Tại Hoa kì, phụ nữ có nguy cơ bị trầm cảm gấp 2 lần nam giới). Phụ nữ có khuynh hướng dễ bị trầm cảm hơn có thể do những tác dụng của những thay đổi về nội tiết tố. Tuổi cũng là một yếu tố. Trầm cảm có thể bắt đầu ở mọi lứa tuổi; tuy nhiên tuổi trung bình để xuất hiện là vào khoảng nhóm tuổi 20. Tính di truyền và những bệnh tật trước đó có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện trầm cảm.

Tránh tự dùng thuốc

Khi bạn bị trầm cảm, uống rượu hay sử dụng những thuốc không kê toa dường như có thể tạm thời làm bạn thấy khá hơn. Nhưng chúng có thể cản trở mục tiêu điều trị. Tình trạng suy sụp sau khi uống rượu hay những thuốc hưng thần có thể làm tăng cảm giác tội lỗi hay mệt mỏi, và bạn vẫn có thể tiếp tục thấy mình vẫn là một gánh nặng cho những người chung quanh.

Những gì bạn có thể làm được: thuốc chống trầm cảm và điều trị bằng đối thoại

Những gì bạn có thể làm được: thuốc chống trầm cảm và điều trị bằng đối thoại 1

Điều trị trầm cảm có thể cần phải sử dụng nhiều thuốc chống trầm cảm và/hay điều trị bằng đối thoại. Người ta tin rằng trầm cảm là do những thay đổi về mặt hóa học cảu não bộ hay những chất dẫn truyền thần kinh. Thuốc chống trầm cảm được nghĩ là có khả năng đảo ngược những thay đổi này.

Vài điều bạn cần biết về những thuốc chống trầm cảm

  • Sau khi bắt đầu uống thuốc chống trầm cảm, cần 4-8 tuần để thấy được tác dụng của thuốc
  • Không nên ngưng thuốc đột ngột
  • Bạn có thể cần phải đổi sang một thuốc chống trầm cảm khác những thuốc khác nhau tác dụng cho những người khác nhau với những liều khác nhau)
  • Thuốc có thể có những tác dụng phụ, nhưng tác dụng phụ thường giảm dần sau vài tuần điều trị

Điều trị bằng đối thoại

Điều trị bằng đối thoại 1Bên cạnh thuốc chống trầm cảm, Bác sĩ của bạn có thể đề nghị điều trị bằng đối thoại. Một nhà tâm lý, tâm thần, chuyên viên tư vấn hay ngay cả thấy thuốc tổng quát cũng có thể giúp điều trị bằng đối thoại. Điều quan trọng nhất là tìm được một người đã được huấn luyện và bạn cảm thấy thoải mái khi đối thoại với người đó. Không nên bỏ cuộc nếu như bạn không tìm được người nào phù hợp. Hãy tìm một người khác để đối thoại.

Đối thoại với người khác giúp bạn tìm được giải pháp cho những vấn đề của cuộc sống hay học một cách nhận định khác. Nghiên cứu cho thấy với những người bệnh trầm cảm nặng, điều tri bằng đối thoại kết hợp với thuốc chống trầm cảm có thể hữu ích.

Những lời khuyên hữu ích khác

Điều quan trọng bạn cần phải nhớ là trầm cảm là một bệnh. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân sẽ cải thiện. Bên cạnh tuân thủ chương trình điều trị, bạn nên hỏi Bác sĩ về những lời khuyên dưới đây xem có hữu ích hay không.

  • Sống điều độ (ăn ngủ điều độ)
  • Thử những điều bạn thích hay đã từng thích
  • Mỗi ngày, hãy thiết lập những mục tiêu nhỏ cho chính bạn và cố gắng đạt được những mục tiêu đã đặt ra
  • Nói với những người bạn tin cậy về cảm xúc của mình

Các giai đoạn điều trị trầm cảm

Thông thường, các chuyên gia về trầm cảm chia điều trị ra làm 3 giai đoạn

  • Giai đoạn 1: Đây là giai đoạn điều trị đầu tiên, mục tiêu là đem lại sự “bình phục” bệnh và giúp người bệnh không còn triệu chứng
  • Giai đoạn 2: Giai đoạn này kéo dài khoảng 20 tuần sau ki “bình phuc” bệnh, mục tiêu là duy trì sự “bình phục” và ngăn ngừa sự tái phát
  • Giai đoạn 3: Bác sĩ của bạn sẽ quyết định bạn cần được tiếp tục điều trị nữa hay ngưng để đề phong tái diễn cơn trầm cảm

Trầm cảm là một căn bệnh mạn tính cần được điều trị lâu dài để ngăn ngừa các triệu chứng xuất hiện trở lại. Nên nhớ mục tiêu điều trị là ngan ngừa các triệu chứng xuất hiện trở lại. Bằng sự quyết tâm theo đuổi điều trị của mình, bạn có thể hy vọng là tình hình sẽ tiến triển tốt đẹp.

Bên cạnh thuốc chống trầm cảm, bác sĩ của bạn có thể đề nghị điều trị bằng đối thoại. Một nhà tâm lý, tâm thần, chuyên viên tư vấn hay ngay cả thầy thuốc tổng quá có thể giúp điều trị bằng đối thoại.

Các giai đoạn điều trị trầm cảm 1

Tuân thủ điều trị

Điều quan trọng phải nhớ là tuân thủ chương trình điều trị mà Bác sĩ của bạn đã vạch ra. Đi khám bệnh thường xuyên giúp bạn tuân thủ chương trình điều trị và tiếp tục thẳng tiến đến mục tiêu điều trị.

Tôi cần dùng thuốc trong bao lâu

Nếu bạn được kê toa thuốc chống trầm cảm, điều quan trọng là phải uống thuốc đúng nhu Bác sĩ hướng dẫn. Ngay cả khi bạn thấy đã khá hơn, cũng không nên thử bỏ thuốc. Trầm cảm là một bệnh dễ tái phát. Những bệnh nhân đã bị trầm cảm trong quá khứ thường dễ bị tái phát hơn. Thực tế, cơ hội bị tái phát là 70% nếu đã bị trầm cảm 2 lần và gần 90% nếu đã bị trầm cảm 3 lần. Tin tốt lành là điều trị có thể làm giảm tái phát trầm cảm. Nhưng để đạt được điều đó, bạn cần uống thuốc như Bác sĩ đã kê toa

Mục tiêu điều trị là làm tránh sự xuất hiện trở lại của những triệu chứng. Nhiệm vụ của bạn là uống thuốc như đã được lê toa trừ phi Bác sĩ cho phép bạn ngưng thuốc. Thời gian bạn cần duy trì thuốc chống trầm cảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự đáp ứng và tiền sử trầm cảm của bạn.

Để kiểm soát bệnh trầm cảm?

Khi bạn đạng bị trầm cảm, thường khó động viên chính mình để làm bất cứ điều gì. Tuy nhiên, nếu có thẻ, thường có một vài cách đơn giản có thể hữu ích. Bạn không cần phải thử tất cả, chỉ chọn những biện pháp nào bạn nghĩ là hữu ích.

Trước khi thử bất kỳ biện pháp nào, điều rất quan trọng là phải nỏi ý kiến bác sĩ của bạn.

Vận động: bất cứ dạng vận động nào cũng đều có tính chất chống trầm cảm tự nhiên. Bạn không cần phải đến phòng tập đều đặn hay chạy bộ 5 dặm. Hãy bắt đùa bằng đi bộ mỗi ngày. Những băng hình hay DVD thể dục có thể làm bạn thấy thú vị. Bạn hãy tự đặt ra những mục tiêu nhỏ để dễ đạt được và tăng dần khối lượng luyện tập khi bạn thấy khá hơn.Để kiểm soát bệnh trầm cảm? 1

Lên kế hoạch những hoạt động giải trí: thử nhớ nhũng điều mà bạn từng thích như: đi coi phim với bạn bè, đi xem triển lãm nghệ thuật, đi ăn, mua sắm. Bạn hãy thử vài điều nho nhỏ mỗi ngày.

Khi bạn bị trầm cảm, ngay cả những điều bạn yêu thích trong quá khứ cũng có thể trở thành chán ngán và tẻ nhạt, nhưng nếu cố gắng tập trung vào những hoạt động nhỏ mỗi ngày, điều đó có thể giúp bạn thấy khá hơn. Nó cũng tạo cảm giác là bạn đang đạt được một điều gì đó, rất quan trọng để đạt được mục tiêu điều trị.

Sống điều độ: Sống điều độ thường hữu ích cho người bệnh trầm cảm. Những hoạt động đơn giản thường nhật có thể trở thành rất khó khăn với người bệnh. Nếu bạn thiết lập một thời gian biểu và tuân thủ tốt, bạn có thể thấy mình trở lại như trước đây. Bạn hãy dành thời gian vệ sinh thân thể và chăm sóc dung mạo, và ăn ngủ điều độ

Tìm kiếm sự hỗ trợ chung quanh mình: Mặc dù bạn bề và người thân không thể hiểu hoàn toàn những gì bạn đang trải qua, bạn vẫn nên nói chuyện với những người yêu mến mình. Không nên nghĩ mình là gánh nặng cho người khác trong thời gian này. Có những người hỗ trợ đôi khi có thể khá hữu ích. Giãi bày với gia đình hay bạn bè tin cậy và nói cho họ biết những gì bạn đang cảm nhận. Hãy trao đổi với bác sĩ  hay chuyên viên tư vấn và đừng sợ sẽ bị công kích.

Có những người hỗ trợ đôi khi có thể khá hữu ích.

Ngủ ngon hơn

Trầm cảm thường gây rối loạn giấc ngủ. hình thành một thói quen đi ngủ tốt là chiến lược chủ yếu để đối phó với vấn đề này. Đây là những điều bạn có thể làm để có được 8 tiếng nghỉ ngơi:

  • Thức giấc vào cùng một giờ mỗi ngày, kể cả cuối tuần
  • Thử không lo nghĩ khi bạn nằm trên giường buổi tối
  • Đừng nằm trăn trở trên giường. Nếu bạn thấy khó ngủ, hãy ngồi dậy và đọc một cuốn sách, nghe nhạc hay làm mọt điều gì thư giãn. Khi nào bạn bắt đầu thấy buồn ngủ, hãy vào giường lại.
  • Hình thành một nếp sống đều đặn có thể giúp bạn ngủ được. Thử tắm nước nóng, uống một ly sữa nóng hay tĩnh tâm.
  • Dọn phòng ngủ càng tiện nghi càng tốt.
  • Tránh xa rượu, cà phê và thuốc lá.

Điều quan trọng nhất là phải uống thuốc chống trầm cảm vào những thời gian đều đặn như đã được kê toa.

Biết tổ chức

Nếu bác sĩ của bạn kê toa thuốc chống trầm cảm, điều quan trọng nhất là uống thuốc đúng theo toa. Bạn hãy lưu giữ danh sách các loại thuốc mà bạn đang uống, kể cả những thuốc không kê toa và vitamin. Nên nhớ, nhiều thuốc chống trầm cảm có thể tương tác với những thuốc không kê toa, nên tránh sử dụng chung. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ nếu bạn không biết chắc và đừng quên Dược sĩ có thể là nơi hỗ trợ hữu ích.

Liên quan giữa tự sát và trầm cảm

Tự sát là một lãnh vực rất khó thảo luận trong trầm cảm. Tuy nhiên, bạn cần phải biết về yếu tố nguy cơ này. 87% các trường hợp tự sát là do trầm cảm. Tự sát là hậu quả của việc muốn chấm dứt tất cả những đau khổ mà người bệnh đang trải qua. Rượu và thuốc lá, giúp giải phóng sự ức chế, thường là một yếu tố trong hành động tự sát và tử vong.

Những yếu tố sau có thể góp phần vào ý nghĩ tự sát:

  • Cái chết của một người thân
  • Mất mát một mối quan hệ tình cảm quan trọng (ly dị, ly thân).
  • Không có sức khỏe hay chất lượng cuộc sống kém.
  • Bệnh mạn tính.
  • Thất nghiệp.
  • Thua lỗ về tài chính.
  • Mất việc.
  • Lệ thuộc về cơ thể, tâm lý hay tình dục.
  • Nghiện rượu và/hoặc nghiện thuốc lá.
  • Có hành vì tự sát hay tự gây tổn thương trước đó.

Bác sĩ của bạn sẽ đóng vai trò tích cực trọng việc điều trị giai đoạn khó khăn nhất trong đời bạn. Để tránh trường hợp bạn dùng thuốc cho việc tự sát, bác sĩ của bạn có thể hạn chế số lượng thuốc kê toa trong mỗi lần khám. Có thể bạn cũng cần thêm nhiều cuộc điều trị bằng đối thoại. Điều quan trọng trong giai đoạn này là phải theo sát KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI BỆNH TRẦM CẢM và báo cáo trung thực những cảm xúc, triệu chứng và/ hoặc những dấu hiệu về tác dụng phụ mà bạn gặp. Trước hết, cần đảm bảo là bạn có thể liên lạc dễ dàng với bác sĩ cũng như những người thân yêu và nhân viên chăm sóc. Không ngại thảo luận thoải mái với họ về những gì bạn đang cảm thấy. Những người này là nhóm hỗ trợ bạn, và họ đang giúp bạn hồi phục.

Liên quan giữa tự sát và trầm cảm 1

Dấu hiệu nguy hiểm: thường những người đang nghĩ đến tự sát cho thấy họ có thể gây nguy hại cho bản thân với một vài dấu hiệu và hành vi, chẳng hạn như suy nghĩ về cái chết hay tự sát, kế hoạch tự sát chi tiết hoặc từng bước tiến hành tự tử. Nếu bạn nhận ra mình có bất cứ dấu hiệu nào kể trên, phải đi gặp bác sĩ ngay. Hãy trò chuyện với người nào có thể nhắc bạn những điều đáng sống trong cuộc đời của bạn và những điều bạn có thể thay đổi. Không nên xấu hổ khi bộc lộ mình với người khác.

BS. Lê Đình Phương

Tài liệu tham khảo:

  1. Mood disoders. In: Diagnostic and Statistical Manualof Mental Disorders, 4th Edition, Text Revision. Washington, DC: American Psychiatric Association: 2000:345-376.
  2. Akiska HS. Mood disoders. In: Sadock BJ, Sadock VA, eds. Comprehensive Textbook of Psychiatry. Vol 1. 7th Philadenphia, PA: Lippincott Williams & Wilkins; 2000:2031-2039.
  3. Freeman EW, Samuel MD, Liu L, et al. Hormones and and menopausal status with depressed mood in women in transition to menopause. Arch Gen Psychiatry. 2004;61:62-70.
  4. Thase ME, Greenhouse JB, Frank E, et al. Treatment of major depression with psychotherapy or psychotherapy-pharmacotherapy combinations. Arch Gen Psychiatry. 1997;61:1009-1015.
  5. Karasu TB, Gelenberg A, Merriam A, et al, for the Major depression Disoders Work Group. Practice Guideline for the treatment of patients with major depression Disoders (revision). In: American Psychiatric Association Practice Guidelines. Washington, DC. American Psychiatric Pulishing Group; 2000:2-13
  6. Schneider B, Wetterling T, SargK D, et al. Axis I disoders and personality disoders as risk factor for suicide. Eur Arch Psychiatry Clin Neurosci. 2006; 256:17-27.
  7. Barrero SP, Beautrais A, de Leo, et al. Preventing Suicide: a Resource for General Physicans. Mental and Behavioural disoders, Department of Mental Health, WHO.2000.
  8. Roy A. Psychiatric Emergencies. In: Sadock BJ, Sadock VA, eds. Comprehensive Textbook of Psychiatry. Vol 1. 7th Philadenphia, PA: Lippincott Williams & Wilkins; 2000:2031-2039.
  9. Jacobs DG, Baldessarini RJ, Conwell Y, et al, for the Succidal Behaviours Work Group. Practice Guideline for the treatment of patients with Succidal Behaviours. In: American Psychiatric Association Practice Guidelines. Washington, DC. American Psychiatric Pulishing Group; 2003:10-46.

 

Chuyên gia tư vấn - 22 Tháng Hai, 2021
X

Cảm ơn bạn. Chuyên gia của chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi của bạn trong thời gian sớm nhất.

Bạn vui lòng kiểm tra hòm thư để nhận câu trả lời

Tư vấn trực tuyến

Vui lòng đặt câu hỏi, các chuyên gia sẽ tư vấn sớm nhất cho bạn!